|
 |
 |
 |
 |
 Chăn Nuôi
|
Mô hình nuôi Tôm quảng canh cải tiến hiệu quả
|
|
Những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở Bến Tre không ngừng phát triển, đặc biệt là nuôi tôm sú. Đây là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, nông dân nuôi tôm bằng nhiều cách như: quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh... mỗi hình thức nuôi đều có những ưu, khuyết điểm riêng. Chính vì vậy, để tìm ra một hình thức nuôi với chi phí thấp, hiệu quả kinh tế cao là vô cùng cần thiết, mà mô hình nuôi quảng canh cải tiến năng suất cao đang được xem là hướng nuôi phù hợp nhất với trình độ, điều kiện kinh tế của người nuôi tôm Bến Tre. Nhiều hộ nuôi tôm sú theo mô hình quảng canh cải tiến đã mang lại hiệu quả kinh cao, tiêu biểu là hộ anh Nguyễn Văn Nghe ở ấp 5, xã An Hiệp, huyện Ba Tri.
Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến của anh Nghe tiến hành trên 0,7ha diện tích mặt nước, con giống đạt kích cỡ từ 2-3cm, mật độ nuôi 10con/m2, tỉ lệ sống đạt 80%. Anh đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nuôi tôm, xử lý triệt để các giai đoạn từ khâu chuẩn bị ao nuôi, chọn giống, cho ăn và quản lý chăm sóc. Độ sâu ao nuôi phải đảm bảo từ 1,2-1,4 m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ nhằm giữ nước và tránh sự lây nhiễm bệnh dịch khi môi trường khu vực nuôi không tốt. Con giống trước khi thả nuôi phải được kiểm tra bệnh đốm trắng, nguồn nước lấy vào ao nuôi phải qua hệ thống túi lọc và được xử lý triệt để trước khi thả giống nuôi (có thể bón vôi để ổn định đáy ao). Thả giống vào thời điểm trời mát mẻ, tốt nhất là vào buổi sáng, ngâm bao giống xuống ao, cho nước ao vào từ từ đến đầy bao sau đó mới cho giống ra ngoài. Nuôi tôm quảng canh cải tiến đòi hỏi thức ăn đơn giản, có thể cho ăn loại thức ăn có chất lượng trung bình trong khoảng 1,5 đến 2 tháng nuôi đầu tiên, thời gian sau nên kết hợp thức ăn tự chế hay thức ăn tươi để giảm chi phí sản xuất, thức ăn tươi bao gồm: các loại cá tươi rẻ tiền, ruốc, hến…Lượng thức ăn được tính toán dựa trên cơ sở ước lượng khối lượng tôm có trong ao, kích cỡ tôm trung bình và tỉ lệ thức ăn so với trọng lượng thân của kích cỡ tôm trung bình. Đồng thời phải dựa vào các sàng cho ăn, tình hình môi trường, thời tiết và sức khoẻ tôm để điều chỉnh thức ăn cho thích hợp. Thường xuyên bổ sung thêm vitamin và khoáng chất để tăng sức đề kháng cho tôm, định kỳ bổ sung thêm men vi sinh để phân hủy nền đáy ao. Tháng đầu, tôm sẽ tìm thức ăn tự nhiên, qua tháng thứ hai tiến hành cho tôm ăn bổ sung bằng thức ăn công nghiệp hiệu NURI, lượng thức ăn từ 3-5% trọng lượng đàn tôm, sàng cho ăn đặt đều khắp ao nuôi và cho ăn ngày hai lần sáng và chiều. Đồng thời kiểm tra các yếu tố về môi trường như: độ pH, độ kiềm, độ mặn, độ trong… định kỳ 7-10-15 ngày cấy vi sinh một lần bằng chế phẩm D.EM và thường xuyên kiểm tra trạng thái bơi lội, gan tụy, phụ bộ… của tôm để kịp thời xử lý nếu có sự cố xảy ra.
Cần lưu ý quản lý môi trường nước trong ao nuôi, nguồn nước cấp có thể được lấy trực tiếp vào ao nuôi, nên lấy vào những ngày triều cường lớn nhất, cần tránh lấy nước khi bên ngoài có dấu hiệu ô nhiễm, bệnh dịch xuất hiện trong vùng. Thay nước thường được thực hiện bắt đầu vào cuối tháng thứ 2 của vụ nuôi, có thể thay nước sớm nếu như phát hiện chất lượng nước xấu, tôm chậm phát triển. Mức nước thay không nên quá 30% thể tích nước trong ao nuôi. Nếu cần thiết phải thay nhiều, nên thay mỗi ngày 20% thể tích trong vòng 2-4 ngày. Luôn duy trì màu nước ổn định và không được để ao nuôi bị mất màu. Duy trì màu nước bằng cách: thay nước khi màu nước quá đậm (Độ đục nhỏ hơn 25 cm), khi trong ao mất màu tảo (thường từ 1-2 tháng nuôi đầu tiên) phải thay nước ao nuôi và gây màu bằng phân bón với liều lượng NPK: 1kg/1.000 m3, đạm 0.5 kg/1.000m3 và khi màu nước nhạt dần cũng cần phải gây màu như vậy.
Tôm sú là loài dễ nhiễm các dịch bệnh nên phương châm trong quản lý bệnh tôm là “Phòng bệnh hơn trị bệnh”. Để quản lý tốt bệnh tôm trong nuôi tôm sú quảng canh cải tiến theo anh Nguyễn Văn Nghe thì chúng ta cần phải: Theo dõi chặt chẽ hoạt động tôm hàng ngày: Biết tôm tập trung như thế nào trong ao nuôi thông qua đặt sàng cho ăn, kiểm tra bằng chài và mò tôm nhằm cho tôm ăn chính xác tránh cho ăn thừa, chỗ cho ăn thiếu; kiểm tra sức khoẻ tôm hàng ngày: buổi sáng sớm kiểm tra tôm yếu ở quanh sườn bờ và buổi tối soi đèn vào mắt tôm quanh sườn, nếu mắt tôm màu đỏ, nhanh chóng lẩn trốn xuống đáy là tôm khoẻ; bắt tôm lên quan sát màu sắc, thức ăn trong ruột, phần chân bơi, đuôi, hiện tượng tôm đi lại nhiều, các dấu hiệu bệnh,... nếu thấy hiện tượng tôm bị bệnh cần ghi rõ trong sổ nhật ký, hỏi cán bộ kỹ thuật cho lời khuyên về biện pháp xử lý.
Thu hoạch là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất. Có thể tiến hành thu hoạch theo 2 cách: thu tỉa: Tiến hành thu tỉa khi tôm bị phân đàn lớn, lượng tôm trong ao nhiều, thu bằng chài bắt những con đạt kích cỡ thương phẩm và cách thu tháo cạn: Rút cống để thu bớt số tôm trong ao, khi đã thu được 2/3 số lượng tôm trong ao hay khi lượng tôm ước có trong ao không còn nhiều (không quá 150 kg) thì tiến hành tháo cạn và bắt toàn bộ.
Với quy trình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến phù hợp với điều kiện canh tác và thỗ nhưỡng địa phương, sau hơn 3 tháng nuôi đàn tôm của Anh đạt trọng lượng khoảng 40con/kg, năng suất ước đạt 2 tấn/ha, trừ chi phí thì hộ gia đình anh Nguyễn Văn Nghe thu lãi trên 50 triệu đồng. Thành công từ mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến này cho thấy, khi người nông dân biết ứng dụng khoa học kỹ thuật sẽ giảm được rất nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, cũng như bảo vệ môi trường và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Thành công của mô hình trên sẽ là tiền đề, để nhân rộng trong cho những hộ nông dân tâm huyết với con tôm sú trên đất Bến Tre.
|
| |
|
[Quay về]
|
|
|
 |
 |
 |
|